Lịch sử của cây Trầm hương được biết đến qua Trầm hương, một sản phẩm quý từ nhiều thế kỷ bởi các nền văn minh Châu Á, Ai Cập và Trung Ðông. Trầm hương là một loại vật liệu làm nhang có nguồn gốc từ Ðông Nam Á và Ấn Ðộ. Trầm hương là loại gỗ quý nhất được xếp hạng trong những nền văn minh cổ đại.
Qua sự kiện có nhiều sản phẩm trên thị trường có cùng những hữu ích giống nhau, nên cần phải làm rõ giữa Trầm hương và cây Trầm hương.
Cây Trầm hương là loài cây cho trầm từ những thời gian ban đầu. Trữ lượng Trầm hương có giới hạn và có nhiều loài Trầm hương mới xuất hiện trong lịch sử phát triển. Nhiều sản phẩm được làm ra từ Trầm hương nên cần phải xác định rõ nguồn gốc dòng Trầm hương chiết xuất, nhưng điều này không dễ dàng.
Xuyên suốt lịch sử, chỉ có những vị Vua chúa có quyền lực và những người giàu có mới có khả năng sử dụng Trầm hương và cho đến hiện nay sản phẩm từ Trầm hương đã được sử dụng rộng rãi. Vì sản phẩm từ Trầm hương rất đắt, cho nên người ta chỉ sử dụng để làm quà và thể hiện người thụ hưởng là những người có quyền lực và giàu có.
2. TRẦM HƯƠNG Ở HÀN QUỐC:
Có nhiều lý do tại sao người Hàn Quốc lại không biết đến Trầm hương. Thứ nhất, có rất ít Trầm hương được đưa đến từ Nhật Bản và Trung Quốc có nguồn gốc từ Ðông Nam Á. Thứ hai, giá trên thị trường rất đắt và chỉ có vua chúa mới dùng. Ngay cả những người giàu có cũng không được mua sử dụng, ngoại trừ được Vua cho phép.
(1) Samuk Sagi (trong "Lịch sử 3 vị vua"):
Silla King Hyun-Duk (919 sau công nguyên): Vua Silla King Hyun-Duk (919 sau công nguyên) là vị vua đầu tiên nhập rất nhiều Trầm hương về sử dụng và nghiêm cấm mọi người dùng, ngay cả với tầng lớp thượng lưu giàu có.
(2) Koryo Sa (trong "Lịch sử triều đại Koryo"):
* Dùng làm thuốc: Vua Kyryo King Mun Jeng sử dụng Trầm hương để làm thuốc. Vị vua này bị bệnh phong thấp do tuổi già và ông ta đã được nhiều lương y ở Kyryo chữa trị. Tuy nhiên, sức khỏe ngày càng yếu đi do không dùng đúng thuốc chữa trị. Cho đến một ngày đi an nghỉ, Vua hỏi Hoàng đế Trung Quốc là Song về các loại dược liệu. Hoàng đế Song bèn gửi một lương y của ông ta đến, mang theo hàng trăm thứ dược liệu khác nhau để chữa 88 loại bệnh khác nhau. Trong hỗn hợp thuốc, Trầm hương là vị thuốc đứng đầu danh sách và đã trị khỏi cho vị Vua (quyển 9).
* Dùng làm quà biếu: Trầm hương được dùng làm quà biếu khi vua Sing và Jin đang trải qua hàng trăm năm trong chinh chiến. Vua Song gửi đến Kyryo các món quà đề nghị ngừng chiến tranh, Vua ra lệnh cho sứ thần Delong Hsu gửi Trầm hương được chứa trong một hộp bằng bạc và một hộp bằng vàng.
* Ðiêu khắc: Vua I-Wu ra lệnh cho những nhà điêu khắc dùng Trầm hương để khắc tượng Avalokitesvara Bodhisattva (Thần Merey) (quyển 17).
(3) Choson Sirok (trong "Lịch sử triều đại Choson"):
* Dược liệu: Vua King Sejong (1431 sau công nguyên) bàn với cận thần về sự quan trọng trong việc giữ kín nguồn cung cấp dược liệu. Vua nói rằng hương Cacrin và Cinnabar là những loại dược liệu hàng đầu, nhưng 2 loại này chỉ có ở Trung Quốc, nhưng Trầm hương cũng lại rất khó tìm hơn ở Trung Quốc. Trong lịch sử, những thương nhân Nhật Bản thường đến để bán Trầm hương. Nhưng sau đó họ ngưng bán do giá quá thấp. Trầm hương không có nguồn gốc ở Nhật Bản, nhưng họ mua từ một nơi rất xa. Sau đó, vị Vua đã mua Trầm hương mà không cần quan tâm đến giá cả (Sejong 14, quyển 3, trang 421).
* Món hàng hài lòng của Vua: Năm 1493 (sau công nguyên), nhiều quan cận thần báo với nhà vua là các thương nhân Nhật Bản thu lợi rất nhiều qua việc buôn bán Trầm hương cho Hàn Quốc. Các vị cận thần đề nghị nhà Vua cấm buôn bán với người Nhật Bản. Vua King Seung-Jong trả lời rằng: Ngoại trừ Trầm hương và Dryobalanop, còn tất cả cấm buôn bán với người Nhật Bản. Với 2 loại này, có thể mua mà không cần quan tâm đến giá cả (Seung-Jong 25, quyển 12, trang 546).
* Món hàng biểu hiện sự tôn kính: Vào năm 1804 (sau công nguyên) trong điện Insan, có người dâng cho Vua 5 chiếc vòng quý báu. Nhưng Vua không nhận, chỉ khi người đó dâng Trầm hương thì Vua nhận. Hơn nữa, các loại hương liệu cũng bị thay thế bởi Trầm hương (Soon-Jo, quyển 47, trang 505).
* Chiếc vòng đeo tay của Hoàng thái tử: Vào năm 1541 (sau công nguyên), Hoàng thái tử Joong-Jong bị mất chiếc vòng đeo tay bằng Trầm hương. Nhưng điều này không làm cho Hoàng thái tử lo lắng vì ông ta biết rằng người ăn cắp sẽ đem chào bán cho hoàng gia và sẽ trở về lại với ông ta vì nó vô giá. Ðúng như vậy, chiếc vòng sau đó lại trở về với Hoàng thái tử (Joong-Jong 36, quyển 18, trang 442).
* Sự quý hiếm của Trầm hương: Vào 1524 (sau công nguyên), Thừa tướng Jen Kim bị bệnh nặng và mất trí nhiều lần trong tuần. Thì có một người đến cho một toa thuốc gọi là "Trầm hương hạ Qi" được yêu cầu để cứu Thừa tướng. Tuy nhiên, ông ta nói rằng không thể tìm Trầm hương quý hiếm ở chợ. Sau khi nghe tin này, vua Joong-Jong đặt mua Trầm hương để chữa trị cho Thừa tướng (Joong-Jong 18, quyển 16, trang 193).
* Tượng phật Trầm hương ngưỡng mộ của Vua: Vào năm 1458 (sau công nguyên), vua Se-Jo gửi tượng Phật Buddhist Sutra làm bằng thủ công đến Hoàng Ðế Nhật Bản. Trong lá thư gửi Hoàng Ðế, Vua viết gửi một bức tượng Phật Trầm hương để tỏ lòng ngưỡng mộ (Sejo 3, quyển 7, trang 200).
* Vẻ đẹp và dinh thự: Vào 1615 (sau công nguyên), vẻ đẹp được mô tả như vẻ đẹp của Trầm hương. Cũng vậy, dinh thự của Vua được đặt tên sau chữ Trầm hương (Kwang-hea, quyển 32, trang 402/466).
* Màu sắc của Trầm hương: Ở Hàn Quốc và Trung Quốc, màu của Trầm hương (xanh lá cây đậm) được sử dụng rộng rãi trên bộ đồ của Vua và Hoàng hậu, và cũng được sử dụng để sơn dinh thự của Vua (nhiều nơi trong Silok)
* Trang trí: Trầm hương được sử dụng như là vật quý giá mà nhà Vua ban tặng cho cận thần như dây đai, quần áo, hộp và dụng cụ âm nhạc.
3. TRẦM HƯƠNG Ở TRUNG QUỐC
* Vào thời kỳ Trung Quốc cổ đại, những người giàu có chọn Trầm hương để làm quan tài. Theo Tam Quốc Diễn Nghĩa, Vua Gwan Yu (thời kỳ hưng thịnh nhất bấy giờ) bị truất phế do tranh quyền và được Tào Tháo kế vị. Theo thỉnh cầu của Guan Yu, Tào Tháo làm áo quan bằng gỗ Trầm hương để tẩn liệm Guan Yu (chương 77).
* Có một chương khác, để có thể truyền sự thành kính đến cái chết của Trương Phi, Tôn Quyền đặt đầu của Trương Phi (cũng bị chặt đầu) trong áo quan làm bằng gỗ Trầm hương và gửi đến Lưu Bị (chương 83).
* Trong Phật giáo, chuỗi hạt quý giá của những cao tăng cũng làm bằng gỗ Trầm hương và chuỗi có 108 hạt. Có một câu chuyện kể về giá trị tinh thần nơi vòng đeo cổ của các cao tăng. Cao tăng đeo vòng và đi khắp nơi trong nước, bất cứ khi nào thấy ai bị bệnh, sẽ lấy đi một hạt và dùng để trị bệnh. Sau khi nghiền và cho uống thì bệnh sẽ khỏi. Niềm ước muốn của các cao tăng là muốn sử dụng hết các hạt trước khi mất.
4. TRẦM HƯƠNG TRONG KINH THÁNH
Có 5 nơi trong Kinh Thánh có nhắc đến Trầm hương và được gọi là agarwood, ngoài ra cũng dùng bằng từ aloewood. Aloewood được sử dụng bởi các vị Thánh như tên của cây Trầm hương trong Kinh Thánh (số 24:6). Trầm hương được người Ai Cập sử dụng để ướp xác chết. Nicodemus đã dùng bột Trầm hương để ướp xác Ðức Chúa Christ (John 19:39); Trầm hương còn được sử dụng như một loại hương liệu quý giá được nhắc đến trong Kinh Thánh.
* John 19:39: Và cũng là Nicodemus, đến với Christ trước nhất và mang theo chất bột khoảng vài chục ký là hỗn hợp của Trầm hương và nhựa thơm.
Numbers 24:6: Thung lũng thì trải dài, như các khu vườn bên cạnh bờ sông, cũng như cây Trầm hương được Thánh Lord trồng và cũng như cây cedar bên cạnh hồ nước.
* Proverbs 7:17: Tôi đã được tẩm hương bằng Trầm hương, quế và nhựa thơm.
* Psalms 45:8: Bên ngoài các lâu đài, họ ngửi mùi hương Trầm, keo và nhựa thơm làm cho họ thấy hạnh phúc.
* Soomon 4:14: Hương trầm là sự kết hợp giữa Trầm hương và nhựa thơm là hương thơm bậc nhất.
A. LỊCH SỬ TRẦM HƯƠNG Ở VIỆT NAM:
I- TRẦM HƯƠNG NGUYÊN SINH TRONG RỪNG TỰ NHIÊN:
* Cùng với lịch sử phát triển của nước ta, Trầm Hương được người Việt Nam biết đến hơn hai ngàn năm.
* Cây Trầm hương thường mọc rải rác trong các vùng rừng dọc miền Trung và các tỉnh phía Nam, xuống tận An Giang, Kiên Giang và đảo Phú Quốc, có nơi có mật độ cao, đạt đến 120-150 cây/ha như Ba Rền (Quảng Bình), Hương Khê (Hà Tĩnh). Phân bố tập trung nhất và nhiều nhất là ở các tỉnh Quảng Ninh, Hà Bắc, Hoà Bình, Tuyên Quang, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Gia Lai, Kon Tum, Bình Ðịnh, Phú Yên và Kiên Giang (đảo Phú Quốc và Hà Tiên).
* Trích bài "Bảo tàng Trầm hương, bao giờ" của phóng viên HUỲNH VĂN MỸ gởi đăng trên Tuổi Trẻ Chủ Nhật:
NHỮNG NẺO ÐƯỜNG TRẦM HƯƠNG
Lịch sử buôn bán Trầm hương giữa những người khai thác - buôn bán Trầm hương của nước ta với các thương nhân nước ngoài quả là những trang vàng, nhắc lại là cả một tiếc nuối cho một thời vang bóng. Theo một số tài liệu, người Nhật cũng như người Cao Ly ( Triều Tiên ) nhập khẩu Trầm hương của ta từ khoảng hai ngàn năm trước đây, còn người Trung Quốc thì sớm hơn nhiều. Cũng theo một số cổ thư, Trầm hương của ta cũng theo Con đường tơ lụa trên biển để sang các nước vùng Trung Ðông vốn là những nước có nhu cầu tiêu thụ Trầm hương khá sớm và khá mạnh. Ngay từ thời xa xưa, Trầm hương được coi là vật sở hữu của Vua Chúa và quan lại cao cấp bởi đây là một phương dược và là vật cúng dường vô cùng quý giá. Nhưng chỉ đến khi dược liệu và hương liệu thượng đẳng này trở nên là nhu cầu của nhiều người, Trầm hương mới trở nên là loại hàng hóa lưu thông rộng rãi trên các thị trường đã nói .
Ðể qua một bên những nẻo đi của Trầm hương xứ ta trên những tư liệu xa xưa ấy, có thể thấy lâm sản số một này đã được khai thác - buôn bán như thế nào ở thời khoảng các đây gần hai phần thế kỷ qua những lời kể lại của chính những người săn trầm còn sống ở xứ Quảng - một vùng Trầm hương giàu có được biết đến muộn nhất ở nước ta. Chưa bị hạn chế hay cấm đoán bởi các cơ quan chức năng, việc khai thác cũng như buôn bán Trầm hương trong thời khoảng này vẫn được tư do. Ở miền Trung- vùng Trầm hương trọng điểm của nước ta- khi Hội An không còn là thương cảng, chợ Ðông Ba ở Huế chính là chợ đầu mối Trầm hương thịnh hành nhất lúc bấy giờ. Các phu trầm-những người khai thác Trầm hương - cho vùng thị trường này săn tìm trầm từ các vùng rừng Quảng Trị, Thừa Thiên, Huế, Quảng Nam. Trầm hương lúc bấy giờ còn rất phong phú nên thị trường chỉ ăn các loại trầm thượng đẳng : loại một, loại hai, và loại siêu đẳng là kỳ nam- những hàng loại mà hiện nay còn lại rất ít, giá một kg nằm ở mức từ năm trăm triệu đến tám trăm triệu ( VND) -theo báo giá mới đây của Chim-Hyang Corporation- Công ty Trầm Hương ( Hàn Quốc ) .
Cuộc tổng tảo thanh Trầm hương ở nước ta diễn ra ồ ạt chỉ không đầy hai thập kỷ- từ những năm 80 đến giữa những năm 90 của thế kỷ trước . Giữa bối cảnh cuộc sống kinh tế của người dân còn lắm khó khăn sau ngày hòa bình, suốt thời gian trên, hàng ngàn người đã đổ xô lên rừng tìm trầm vừa như một phướng cách mưu sinh vừa cho mong ước đổi đời. Không chỉ tìm trầm từ những thân Dó rục nằm vương vải trên mặt rừng như thời trước, ở thời kỳ này người săn trầm đốn hạ bất kể cây Dó nào bắt gặp được để bổ ra tìm kiếm Trầm hương. Nhu cầu Trầm hương từ bên ngoài tăng cao sau nhiều thập kỷ Trầm hương nước ta bị ách tắc do chiến tranh, người ta thu mua cả đến trầm các loại 4-5 và cả đến loại 6- loại trước đây chỉ bán làm giác xông (đốt ) với giá rẻ mạt. Với qui mô, cường độ và phương thức khai thác như thế, chỉ sau hơn mười lăm năm những vùng Dó được hình thành sau hàng trăm năm đã bị xóa khỏi mặt rừng ...
II/ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH TRẦM HƯƠNG DÂN SINH:
1- Trên thế giới:
Trước đà tuyệt chủng của cây Dó Bầu, các nhà khoa học đã đưa cây này vào sách đỏ thực vật và nỗ lực nghiên cứu phương thức cấy tạo Trầm Hương:
a/ Phương pháp cấy Trầm của Viện Hàn Lâm thế giới ( 1999) :
Cây Dó Bầu 10 năm tuổi sẽ cấy trầm, mỗi 3-5 năm lặp lại một lần.
Mỗi năm cấy Trầm 01 lần, cấy 3 năm liền như sau :
+ Năm đầu tiên cấy hướng Tây.
+ Năm thứ hai cấy hướng Bắc.
+ Năm thứ ba cấy hướng Ðông .
Mỗi lần dùng 50g bột trầm cấy vào thân , cách thức y như chiết ghép cây . Sau 10 năm khai thác Trầm , mỗi cây lấy được 4-6kg Trầm loại IV . Nếu cấy Trầm loại đặc biệt vào cây Dó thì sẽ được Trầm loại II .
Phương pháp cấy Trầm của Viện Hàn Lâm phải mất thời gian khá dài ( 20 năm) mới đạt Trầm chất lượng cao.
b/ Phương pháp cấy Trầm của Mỹ và Tổ chức Rừng Mưa Nhiệt Ðới :
Theo đơn Patent của Mỹ số 20020194780, ngày 24-05-2001, đề xuất tạo vết thương nhân tạo trên chất gỗ của cây Dó bằng cách khoan lỗ có chiều sâu 1-10cm vào lõi( xylem ) và được thông khí bằng cách gắn vào đó một ống thông hơi . Ngoài ra một số biện pháp khác cũng đã được sử dụng bổ xung như cấy vi sinh, phun hóa chất .
Giải pháp này được Tổ chức " Rừng Mưa Nhiệt Ðới " thực hiện ở An Giang và Phú Quốc trong dự án " Tạo nguồn trầm ở Việt Nam ", nhưng không đạt kết quả mong muốn. Sản phẩm chỉ là Trầm tóc, chứa một lượng nhỏ tinh dầu có giá trị thấp, dùng xay bột làm nhang chứ không cho Trầm Hương lên hàng loại được . (Do chính ông Henry Heuveling Van Beek, Giám Ðốc tổ chức này xác nhận, được phóng viên Nông Khắc Ý ghi nhận - Báo Người Lao Ðộng, thứ hai, 9-12-2002).
2- Ở Việt Nam :
a/ Giai đoạn khai thác tới tận cùng nguồn tài nguyên rừng với đặc sản quý hiếm là Trầm Hương thiên nhiên trong thân cây Dó Bầu mọc hoang (1975-1992).
* Trong thời gian chiến tranh, Trầm Hương được khai thác rất ít . Vì sợ bom đạn nên người ta không dám vào rừng, lúc đó cây Dó Bầu mọc chen nhau như mía trên rừng Trường Sơn và các vùng rừng núi khác trong nước ta từ Bắc chí Nam, kể cả ngoài hải đảo ( Phú Quốc ).
* Sau khi hòa bình lập lại, một số người dân nghèo khổ khắp nơi đã lén lút đổ xô vào các vùng rừng núi để khai thác trộm tài nguyên của quốc gia. Vì lợi nhuận trước mắt họ đã không suy nghĩ sâu xa, chỉ cốt giành giựt tất cả những gì có thể cho cuộc mưu sinh trước mắt. Họ đã thẳng tay đốn chặt không thương tiếc các cây rừng quý hiếm, xẻ gỗ Trầm, đào tận gốc rễ để tìm kiếm Trầm Hương.
*Trầm Hương vô cùng quý giá, được tụ kết trong thân cây Dó Bầu sống lâu năm (vài mươi tuổi) với tỉ lệ thật là hiếm hoi. Trong hàng ngàn, hàng muôn cây Dó rừng mới có một cây có trầm. Nếu may mắn tìm được Trầm thì người ta giàu lên nhanh chóng. Nếu không may thì mất công, có người lại phải bỏ mạng nơi rừng thiêng, nước độc.
*Thời điểm này chợ Trầm ở miền Trung lên cơn sốt, sôi động hẳn lên, tấp nập kẻ bán, người mua. Các cơ sở xỉa Trầm mở ra ở nhiều nơi trên đất Quảng, thương lái ở các nơi đổ xô về để thu mua trầm bán cho công ty Ngoại thương xuất khẩu.
*Vì thế Trầm Hương được tìm kiếm ráo riết, cây Dó Bầu trong các rừng nguyên sinh bị săn lùng và đốn chặt hàng loạt một cách vô tội vạ. Hàng loạt, hàng loạt những cây Dó rừng bị triệt hạ, đốn sạch, chặt sạch trong chiến dịch càn quét tìm Trầm Hương . Rừng chảy máu, rừng tiêu điều, xơ xác. Trầm hương thiên nhiên giảm dần rồi cạn kiệt dưới bàn tay khai thác tàn bạo của con người .
*Vì thiếu kinh nghiệm người ta đã đốn chặt không thương tiếc tất cả những cây Dó mà họ gặp được.
* Những cây Dó Bầu lâu năm xưa kia bạt ngàn xanh tốt, đóng góp vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, bảo tồn sinh thái trong nước ta đã kêu cứu đến tuyệt vọng rồi mất dần, mất dần và từ từ vắng bóng trên rừng.
b/ Bước ngoặt lịch sử với Trầm Hương nguyên sinh cạn kiệt và cáo chung - Cây Dó Bầu đứng trước nguy cơ tuyệt chủng - Trầm Hương dân sinh ra đời.
Ở Việt Nam : ( 1992-1997).
* Năm 1992, Hội Ðồng Bộ Trưởng ( Chính Phủ ) đã ký Nghị Ðịnh số 18, ghi tên cây Dó Bầu vào sách đỏ, thuộc nhóm 1A, là loại thực vật quý hiếm cần được bảo vệ nghiệm ngặt. Chấm dứt việc xuất khẩu Trầm Hương, nghiêm cấm khai thác, chuyên chở và buôn bán trái phép Trầm Hương.
*Ðây là thời kỳ cáo chung của Trầm Hương nguyên sinh trong lịch sử Trầm HươngViệt Nam, sau hơn hai ngàn năm nổi tiếng, được nhiều nước trên thế giới biết đến và ưa chuộng.
* Phương pháp cấy trầm của Nguyễn Hoàng Huy đạt thành công nhất:
+Giai đoạn nghiên cứu ( 1990-1997):
Khoảng năm 1990, vô cùng đau xót trước tình trạng nhiều mảng rừng xanh bị xóa sạch, cây Dó Bầu trên ngàn đứng trước nguy cơ tuyệt chủng và Trầm Hương Việt Nam với viễn ảnh vĩnh viễn bị xóa tên trên thị trường thế giới, anh Nguyễn Hoàng Huy bèn lặn lội khắp các ngả núi rừng tìm nhổ những cây Dó con mọc hoang dưới gốc những cội Dó Bầu lâu năm đã bị khai thác tận gốc rễ đem về trồng trong vườn nhà.
*Anh gây trồng Dó Bầu, vận động một số người tham gia trồng Dó Bầu ở xã Tiên Mỹ, huyện Tiên Phước- Quảng Nam như ông Võ Khể, Nguyễn Quốc Trinh, Phạm Hữu Cảnh. Từ đó anh Huy đã rút ra những kinh nghiệm bản thân trong quá trình chăm sóc, trưởng dưỡng cây.
+ Giai đoạn thành quả ( 1997-2004 ):
*Trầm hương dân sinh ra đời và dấy động phong trào trồng cây Dó Bầu tạo Trầm.
Trải qua bao ngày tháng mài mò suy nghĩ về cơ chế tạo trầm trong thiên nhiên, anh Huy đã tìm kiếm, thử nghiệm bằng những tác động chủ ý, với các chất xúc tác do anh sáng kiến ra để kích thích việc tụ nhựa trầm trên những thân cây Dó Bầu nuôi trồng được. Ðưa một số chất xúc tác ( không gây độc hại nguồn trầm) vào các vết thương đã khoan lỗ trên thân cây Dó Bầu, sau 2 năm cấy tạo anh Huy thu được Trầm loại V, VI và có cả một ít loại IV.
Trầm Hương dân sinh ra đời với phương thức cấy trầm của anh Nguyễn Hoàng Huy thành công bươc đầu, xứng đáng được ghi tên trên trang sử vàng của lịch sử Trầm Hương Việt Nam với nhiều công khó. Vị cứu tinh của cây Dó Bầu chính là anh Nguyễn Hoàng Huy, người đầu tiên thành công trong việc gây trồng cây Dó Bầu trong vườn nhà và cấy tạo được Trầm Hương đạt chất lượng cao nhất, mở ra một kỷ nguyên mới : Trầm Hương dân sinh ra đời .
Thành công bước đầu của anh Huy làm nức lòng chính quyền và nhân dân địa phương và được nhiều người trong cả nước biết đến.
Năm 1997, sau khi cải tiến phương pháp cấy trầm và nâng cao hiệu quả như ý, anh Huy bắt đầu công bố thành công của mình cho mọi người biết. Phóng viên Huỳnh Văn Mỹ ở Quảng Nam đầu tiên đã viết bài:
* Tiên Phước - Quê mới của Trầm Hương trên tạp chí Khoa học và Ðời sống và SaiGon Times, tháng 7-1997.
Khởi điểm từ quê hương miền Trung, anh Huy bắt đầu mua và bảo quản một vài cây mẹ Dó Bầu Hương còn sót lại, ươm hạt và nhân giống Dó con, tự trồng và vận động bà con nông dân địa phương cùng trồng cây Dó tạo Trầm ngay trong vườn nhà. Phong trào trồng cây Dó Bầu được anh Huy cùng nông dân Quảng Nam tự phát dấy lên mạnh mẽ thành cao trào với từng đợt Trầm Hương nhân tạo của anh Huy tung ra thị trường, như những cơn địa chấn bùng nổ và lan rộng khắp nơi.
Từ đó đến nay đã có Ðài truyền hình Quảng Nam (2000) , Ðài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh ( 2004 ) và Ðài truyền hình Bình Dương
(2004) làm phóng sự đưa tin và khoảng 20 đầu báo viết về việc cấy tạo và khai thác Trầm Hương nhân tạo từ những cây Dó Bầu do nông dân trồng từ cái nôi Trầm xứ Quảng do anh Huy dẫn dắt. Anh Nguyễn Hoàng Huy là người phất ngọn cờ đầu trồng cây Dó Bầu tạo Trầm với thành công vang dội cả nước.
Năm 2004, anh Huy cùng các cộng sự, chính thức thành lập công ty Dó Bầu Hương, triển lãm Trầm Hương nhân tạo tại Hội chợ Triển Lãm Nông Nghiệp Quốc tế -Việt Nam ở Trung tâm Thể dục Thể thao Phú Thọ, Thành phố Hồ Chí Minh (23-29 tháng 9-2004) và được giải thưởng Huy Chương Vàng về cây giống Dó Bầu.
b- Phương pháp cấy tạo Trầm của một vài nhà khoa học:
Nhiều người nghĩ đế việc cấy “men "(có trên thân cây dó bầu mọc trong rừng) vào cây dó bầu đem từ rừng về trồng.
* Theo GS- TS Trần Kim Quy (Ðại học Khoa học Tự nhiên TPHCM):
“Cơ chế tạo trầm ở cây Dó Bầu vẫn còn là điều bí ẩn." (Trích từ báo NGƯỜI LAO ÐỘNG, thứ hai 2-12-2002 do Phóng viên Nông Khắc Ý ghi). GS- TS Trần Kim Quy đã trồng thử ở Lâm Ðồng hơn 500 cây dó bầu. Bản thân ông cũng đã vào rừng lấy trầm và phân lập được 6 giống men trên thân cây dó bầu mọc ở rừng. Thực chất, chỉ có 3 giống men trong số mơi đó có khả năng tạo trầm. Mặc dù số cây dó bầu do GS_TS Trần Kim Quy trồng đến nay đã được 8 năm tuổi nhưng mới chỉ tạo được “vết trầm ".
Trước tình hình đó, GS-TS Trần Kim Quy đã thử phân tích tinh dầu trầm để tìm cơ chế tạo trầm ở cây dó bầu và đã xác định được 15 chất tạo hương có trong thành phần của trầm. Từ đó, có thể đem lại con đường ngắn nhất để nuôi trồng cây dó bầu nhằm tạo ra loại trầm hàng hóa (đạt yêu cầu về chất lượng và số lượng) . Tuy nhiên, việc này đòi hỏi phải thực hiện nhiều nghiên cứu cơ bản và phải do Nhà nước đầu tư mới có thể đem lại kết quả."
* Theo TS. Thái Thành Lượm (Phó GÐ Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn Kiên Giang). Ứng dụng giải pháp cấy trầm là cấy meo nấm, chất dinh dưỡng, chất xúc tác vào vết thương trên cây (trong đó meo nấm là nấm phát triển ở cây Dó bị tổn thương được phân lập và nuôi trong môi trường dinh dưỡng thích hợp và chất xúc tác đóng vai trò đưa meo nấm tiếp cận tế bào libe (phloem).
Tuy nhiên giải pháp này cho ra sản phẩm Trầm chất lượng thấp và xác suất thành công không cao.
c/ Phương pháp cấy trầm của dân gian :
Một số người theo suy nghĩ của họ đã thử nghiệm cấy trầm như sau:
- Ðóng cọc sắt, hoặc những mảnh sắt vụn ghim vào thân cây, chờ nhiều năm nếu Trầm tụ thì khai thác.
- Có người cũng khoan lỗ vào thân cây (không theo một quy tắc nhất định), sau đó dùng một số hóa chất như Baz, DEP hoặc các Acid loãng
(Acid Sulfuric, Acid Clorhydric), Clorua sắt 3 để kích thích sự tụ nhựa Trầm. Tuy nhiên sản phẩm thu được không nhiều và có thành phần hóa chất độc hại như Cl, lưu huỳnh ( S) trong sản phẩm nên không được ưa chuộng và cảnh báo gây hại cho sức khỏe. Sự tạo Trầm và chất lượng Trầm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chủng giống, số tuổi, đường kính cây, điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, phương pháp cấy trầm v.v...
Việt Nam là một nước có truyền thống chủ yếu và lâu đời sống bằng nông nghiệp. Hầu hết nông dân đều bám đất, giữ làng, có đức tính cần cù, chịu khó, nhẫn nại, vượt qua bao giai đoạn thăng trầm của đất nước và không ngại gian nan, vất vả. Vì thế nông nghiệp là lĩnh vực mang tính xã hội rất cao, luôn được Ðảng và Nhà nước quan tâm và dành những cơ chế, chính sách ưu đãi cho những đối tượng đầu tư để giúp cuộc sống người dân nông thôn phát triển về kinh tế cũng như các mặt khác (văn hóa, giáo dục, y tế vv...).
Tuy nhiên do xã hội Việt Nam trải qua nhiều năm chiến tranh ác liệt nên việc xây dựng đất nước trong thời hòa bình vừa lập lại gặp vô vàn khó khăn. Nhà Nước phải đối đầu với bao nhiêu vấn đề vô cùng nan giải trong giai đoạn tiếp thu chính quyền và ổn định chính trị.