Nguyễn Thịnh
(Mục “Người đương thời”,
Báo Kinh Tế Nông Thôn cuối tuần, số 10, từ 11.3 – 17.3.2005)
Trầm hương là loại hương liệu, dược liệu quý giá từ xưa đến nay, rất được con người ưa chuộng. Trong tự nhiên, để tạo được Trầm hương phải mất rất nhiều năm và tỷ lệ cây tụ trầm rất nhỏ, khoảng 1/1000. kỳ diệu thay, một người Việt Nam đã tìm ra bí quyết tạo Trầm hương nhân tạo. Tên ông là Nguyễn Hoàng Huy.
Từ xa xưa, loài người đã biết dùng trầm hương như một thứ hương liệu hoặc dùng để chữa bệnh, ướp xác, thờ cúng… Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, Trầm hương có dược tính rất cao. Đặc biệt, tất cả các bộ phận của cây Trầm hương, từ thân, rễ, cành, lá đều có thể sử dụng. Lá của nó có thể dùng uống thay trà, hút thay thuốc lá hoặc dùng làm kem đánh răng (như kiểu kem đánh răng trà xanh PS), cành xay ra thành bột dùng để làm nhang… Ở nước ta, Trầm hương được sử dụng đầu tiên có lẽ từ thời nhà Trần. Nhiều vùng núi nước ta có loại cây này. Trầm hương được chia thành nhiều loại. Cao cấp nhất là Kỳ Nam. Sau đó là loại 1, loại 2, loại 3… Chất lượng kém nhất là Giác. Hiện nay, trầm hương tự nhiên hầu như không còn. Việc duy trì và bảo vệ loài cây này gần như chưa được Nhà nước chú trọng.
MỘT THỜI “NGẬM NGẢI TÌM TRẦM”:
Nguyễn Hoàng Huy quê ở Tiên Phước, Quảng Nam. Nơi đây có một vùng rừng núi có nhiều cây Trầm hương. Trước đây, ông là người của Phòng Ngoại thương tỉnh Quảng Nam. Nhiệm vụ của ông lúc đó là tìm mua Trầm để xuất khẩu. Những năm 1982-1984, ông cùng một nhóm bạn bè lùng khắp vùng rừng núi Tiên Phước để khai thác, tìm mua Trầm. Chính những năm tháng làm thợ điệu dó (tiếng dân trong nghề gọi những người khai thác Trầm) đã mang lại cho ông những hiểu biết, kinh nghiệm quý giá về các loài cây cùng họ với Trầm hương, cũng như cách hình thành Trầm trong thiên nhiên như thế nào. Đó là nền tảng để sau này giúp ông tạo thành công Trầm hương nhân tạo.
Làm nghề thợ điệu, dù là theo kiểu ăn lương Nhà nước như ông, tuy có tiền nhưng cực nhọc, nguy hiểm. Suốt ngày lặn lội nơi thâm sơn cùng cốc, chịu đựng lam sơn chướng khí, có khi là bệnh tật và nỗi lo bị kiểm lâm bắt. Càng làm nghề, ông càng cảm thấy đau xót trước cảnh rừng bị tàn phá.
Và hệ quả tất yếu của việc tàn phá ấy đã đến: Những năm 1985-1986, nguồn trầm trở nên khan hiếm, khánh kiệt và biệt tích luôn, không còn tìm thấy Trầm ở những vùng rừng núi quen thuộc nữa. Trầm hết thiêng thì ông cũng nghỉ việc vì Phòng Ngoại thương đóng cửa. Trở về nhà với hai bàn tay trắng, ông cảm thấy bứt rứt. Trước kia từng làm ra nhiều tiền, ăn tiêu không biết tiếc, nay thì phải sống dè sẻn, tằn tiện. Và ông quyết định quay trở lại rừng với ý nghĩ là tìm nấm linh chi để bán.
Nấm linh chi cũng là một thứ sản vật của rừng, quý hiếm và giá trị. Thời đi rừng ông cũng đã từng thấy chúng mọc trên những cây Chò cổ thụ. Loại này rất có giá vì chúng là thứ nấm Cổ Linh Chi có nhiều năm tuổi, tác dụng chữa bệnh hữu hiệu. Một lần nọ, khi đến một căn chòi bỏ hoang bên rừng, ông chợt thấy một cây Dó bị cụt ngọn đứng cạnh chòi. Nó vẫn chưa chết. Ông chợt nhớ ngày xưa mình đã từng thấy những cây Dó bị mảnh bom dính vào mà vẫn sống. Ở chỗ vết thương đó thường tụ trầm. Một ý nghĩ lóe lên trong đầu ông: Sao mình không thử tạo trầm bằng cách đó? Thế là ông về nhà đem những miếng sắt đóng thử vào cây. Khoảng 9 tháng sau ông trở lại. Khi đục thử lớp vỏ, bằng con mắt nhà nghề, ông mừng rơn vì thấy chúng đã tụ trầm. Nhưng đó chưa phải là thứ trầm như ông mong muốn. Song đó là một tín hiệu tốt cho một hướng đi mới của ông.
CUỘC TÌM KIẾM BÍ QUYẾT TẠO TRẦM HƯƠNG
Theo kinh nghiệm của ông thì chỉ loại cây Dó bầu hương mới cho Trầm hương. Các loại Dó khác không tạo được Trầm hoặc chỉ cho ra loại giả trầm giá trị không cao. Dó bầu hương là cách gọi của người Huế, người Phú Yên – Khánh Hòa gọi là cây Hàng, người Quảng Nam gọi là Dó xót. Trong hàng Dó bầu còn có Dó bầu trắng, Dó bầu đen, Dó bầu lưỡi trâu. Bầu đen thì vỏ cây màu đen. Bầu đen thì vỏ cây màu đen, Bầu trắng thân lốm đốm trắng tựa da cóc, Bầu lưỡi trâu lá to như lưỡi trâu. Cùng họ với Dó (nhưng không tạo ra Trầm hương) còn có Dó niệt, Dó dây, Dó ngọt, Dó me… Dó niệt chia ra làm 3 loại nữa là Dó niệt trắng, Dó niệt đen và Dó niệt đá. Dó dây có thân nhỏ như sợi dây, có chứa chất độc. Dó ngọt thân và lá có vị ngọt không mùi…
Thời hoàng kim của Trầm hương, dân buôn Trầm thường trộn lẫn một ít Dó niệt đen (có khả năng tạo giả trầm mùi thơm gần giống Trầm hương nhưng chất lượng không bằng) vào với Trầm hương để bán. Còn loại Dó niệt đá thì có thể tạo ra Bì kỳ, tức là một thứ trầm giả chất lượng kém tụ ở phía ngoài sát vỏ cây.
Trở lại chuyện ông Huy. Sau khi tìm ra cách tạo Trầm trên cây Dó bầu, ông đã tìm mua cây giống về trồng ở gần nhà. Còn một ít ông chia cho bạn bè trồng thử nghiệm. Nhưng không ai tin ông có thể thành công. Họ nói: “Ông Huy điên rồi, ăn cơm dưới đất mà nói chuyện trên trời, cây Dó làm sao có thể tạo trầm được?!” Ngay cả bố mẹ ông cũng không tin. Nhưng ông vẫn nhất quyết làm. Lúc đó, vườn Dó của ông còn nhỏ quá, chưa thể cấy trầm được. Trong một lần đi tìm cây giống, ông đến vùng Núi Thành – Quảng Nam. Tại đây ông gặp một vườn Dó rất lớn ở trong vườn một người dân. Khu vực này, dân thợ điệu chưa đặt chân tới được, còn nằm “ngoài vùng phủ sóng” của dân điệu. Hơn nữa, nhờ nó nằm trong nhà dân nên mới còn nguyên vẹn. Mừng quá, ông bèn hỏi mua lại cả vườn cây để thử nghiệm.
Lúc đầu, ông tạo Trầm theo cách trước đây, nghĩa là đóng những mảnh sắt vào thân cây. Ít tháng sau, ông kiểm tra, nhưng chỉ thu được những thứ Trầm loại 5, loại 6. Chưa hài lòng với kết quả đó, ông miệt mài với những suy tính thử nghiệm mong tạo được thứ trầm cao cấp. Rồi một ngày, trong khi suy nghĩ, ông chợt nhớ lại thời mình đi tìm trầm, thường thấy ở những cây có Trầm, có một loại vi sinh vật trú ngụ. Loài này thường ăn cỏ và thân cây Bầu hương. Xung quanh những lỗ đó thường có Trầm tụ. Ông chợt nghĩ tại sao mình không lợi dụng, vận dụng “kỹ thuật” của loài vi sinh vật đó vào việc tạo Trầm hương? Thế là ông tìm cách “nuôi” loài vi sinh vật này vào những bầu đất của cây giống Dó Bầu hương. Ông bảo: Sau khoảng 3 năm, khi những cây này lớn lên, chúng đã có sẵn một lượng trầm trong thân do loài vi sinh vật kia tạo nên. Để tăng năng suất tạo trầm cho cây, ông khoan thêm các lỗ dọc khắp thân và cho một thứ thuốc kích thích do ông nghĩ ra vào cây. Đến nay, ông khẳng định có thể tạo trầm đạt tỷ lệ 95%. Và những kỹ thuật bí quyết tạo trầm như trên chỉ có ông là người duy nhất tạo ra được. Theo ông, cây trầm sau 5 năm tuổi, khi thân cây có đường kính chừng 15-20cm là có thể cấy để tạo trầm. Sau khoảng 5 tháng thì có thể tụ trầm và thu hoạch được. Càng để lâu chất lượng trầm càng cao. Hiện nay, một số người dân ở quê ông, được ông chỉ kỹ thuật và cho hoặc bán cây giống, họ đã tạo được vườn trầm cho mình và có thu nhập cao từ trầm.
LỜI CẢNH BÁO TỪ MỘT VƯỜN GIẢ TRẦM
Dó bầu là loài cây sống khỏe, dễ trồng. Trừ đất phèn, đất nhiễm mặn, đất đá vôi, còn lại các loại đất khác đều phù hợp. Chúng có thể trồng xen với các loại cây khác, trừ cây cao su. Nhờ thế, rất thuận tiện cho các nhà vườn, trang trại. Trồng Dó bầu mang lại lợi nhuận kinh tế cao. Tất cả các bộ phận của cây đều dùng được vì chúng có dược tính rất cao. Một kg trầm loại 4 giá đã là 400-500USD. Ngoài lợi ích kinh tế, chúng còn có tác dụng cải thiện môi sinh. Tuy nhiên, để tạo trầm hương, cần phải chọn đúng giống Dó bầu hương. Các loại khác không tạo được trầm hương. Thực tế đã chứng minh như câu chuyện sau đây:
Có một nhà sư sống ở Phú Quốc. Trong một lần, ông được một nhà khoa học nói cho biết giá trị của trầm hương. Ông này nói nếu ai có điều kiện thì nên trồng loại cây này. Sau này nếu tìm ra kỹ thuật cấy trầm nhân tạo thì sẽ giàu có. Nhà sư tin lời và giữ ý định đó. Ít lâu sau, nhà sư bị đau tim và không làm việc được nữa. Có một nhóm thợ điệu biếu ông một cục trầm và dặn ông đốt lên xông, phần còn lại thì nghiền ra để uống. Nhờ vậy, ông khỏe lại. Và từ đó, ông càng quyết tâm trồng giống cây này. Thời gian sau, một đoàn khách Đài Loan ra đảo Phú Quốc chơi. Họ đặt người dân tìm cây trầm con bán cho họ. Nghe chuyện, nhà sư thuyết phục người dân nên bán cây cho mình. Sau đó ông đã trồng được khoảng trên 1000 cây. Vườn cây này, sau đó được một đoàn chuyên gia nước ngoài đến tham quan. Họ đã thử cấy trầm vào nhưng kết quả ra sao thì không ai biết. Và không thấy họ quay lại nữa.
Về sau, nhà sư vào Đồng Nai để tu và trồng tại đây 5000 cây nữa. Sau đó ông lại bị bệnh. Khi lành bệnh, ông phát tâm nguyện là sẽ tạo nơi đây thành vườn trầm rồi bán lấy tiền xây một bệnh viện từ thiện. Trong một dịp tình cờ, ông Huy được mời đến đây xem xét. Bằng kinh nghiệm của mình, ông nhận định đây là loại Dó niệt đen. Loại này chỉ cho ra thứ giả trầm, cũng có hương thơm nhưng không phải là trầm hương. Ông khuyên nhà sư nên cấy thử bằng phương pháp của ông, dù không tạo ra được trầm cao cấp nhưng cũng có thể bán được. Lúc đầu nhà sư đồng ý. Nhưng về sau thì ông không muốn nữa. Vì lúc ấy vườn cây của ông đang ra hoa. Nếu cấy trầm thì không thể có trái được nên ông tiếc. Hơn nữa nhà sư nói rằng chỉ cần bán cành cho những người làm nhang thôi cũng đủ lời rồi nên không cần cấy (?). Đây là lời khuyến cáo cho những ai có ý định trồng trầm hương: Chỉ có cây Dó bầu hương mới có giá trị tạo trầm.
“TÔI MUỐN GIÚP NGƯỜI DÂN LÀM GIÀU”
Khoảng năm 1992, sau khi nghe tin ông Huy tạo được trầm hương, một nhóm các nhà khoa học tìm đến ông để tìm hiểu. Ông dẫn họ đi khắp các vùng núi có trầm ở Quảng Nam để nghiên cứu. Nhiều năm trôi qua, vẫn chưa có một công trình khoa học nói về kỹ thuật tạo trầm hương nhân tạo. Cho đến giờ, có lẽ ông là người duy nhất tạo được trầm hương nhân tạo. Đã có nhiều người nước ngoài, đủ các quốc tịch: Nhật, Pháp, Đài Loan… tìm đến ông để mua lại bí quyết này, nhưng ông từ chối, nhất quyết không bán. Ông nói: “Tôi muốn giữ bí quyết này để giúp cho người dân làm giàu, chứ bán đi thì quá dễ và quá uổng!”
Hiện nay, ông đã cùng những người bạn lập ra Công ty TNHH Dó Bầu Hương. Đích thân ông làm Phó giám đốc kỹ thuật, với hy vọng mang kỹ thuật tạo trầm nhân tạo ra truyền bá cho người dân để họ làm giàu. Tham vọng của ông là đem cây Dó bầu trồng lại trên rừng để cải tạo môi sinh và cũng là để lại một nguồn của cải sau này cho con cháu chúng ta. Ông tâm sự: “Trước nay chúng ta chỉ biết ăn (lợi nhuận từ trầm) và phá (cây trầm hương…) chứ không biết trồng. Nay chúng ta phải trồng lại để còn cái gì đó để lại cho con cháu sau này…”. Đó quả là một ý nghĩ thiết thực và đầy trách nhiệm. Và công việc này không phải của riêng một ai.
Giống Dó bầu, cùng kỹ thuật tạo trầm của ông, đã được trồng ở nhiều nơi: Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây Ninh, Bình Dương… Ông Trần Chi Thành, một chủ trang trại, người đầu tiên trồng Dó bầu và áp dụng kỹ thuật tạo trầm của ông Huy, cho biết: “Tôi hiện có khoảng 1500 cây Dó bầu, sắp tới có thể trồng thêm khoảng 5000 cây nữa. Hiện nay chưa thể tính được lợi nhuận vì tôi chưa khai thác. Nhưng nếu để khoảng 5 năm nữa, lợi nhuận sẽ tính theo cấp số nhân”. Tuy nhiên, để có thể trồng Dó bầu tạo trầm cần khá nhiều vốn, sẽ khó thực hiện với những người dân ít vốn. Thiết nghĩ Nhà nước nên có chính sách về vấn đề này.